Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

Nâng trần lãi suất USD lên bao nhiêu còn phụ thuộc nhiều yếu tố!

Để trả lời câu hỏi cần phải nâng trần lãi suất USD lên bao nhiêu thì phải làm rõ vấn đề khác là nhu cầu vay USD nhiều đến mức nào?

rút tiền mặt từ thẻ tín dụng

Thời gian qua Chính phủ đã đôi lần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu giải pháp phù hợp để huy động nguồn vốn vàng, ngoại tệ nhàn rỗi trong dân, để biến thành vốn đưa vào sản xuất, kinh doanh. Và mới tuần trước đây, trong buổi làm việc với NHNN, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng một lần nữa nhắc lại yêu cầu này.

Không rõ chủ trương hưởng ứng yêu cầu trên của NHNN ra sao, nhưng xem ra nếu hưởng ứng thì NHNN không có mấy lựa chọn, ngoài việc nâng trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên trên mức hiện tại là 0%/năm như đề xuất của một số chuyên gia. Nhưng đến đây thì lại có thêm sự chia rẽ trong giới chuyên gia khi người thì cho rằng cần nâng lên 0,5%/năm trong khi người khác thì đề xuất nâng lên tới 2-2,5%/năm.

Vậy đâu là cơ sở để quyết định một mức trần lãi suất tiền gửi USD phù hợp?

Để trả lởi câu hỏi này, điều trước tiên cần nhận thức rõ, khẳng định rõ với nhau rằng không có cái gọi là nguồn vốn vàng và ngoại tệ “nhàn rỗi” trong dân. Vì chủ đề của vấn đề đang bàn đến là về USD nên ở đây chúng ta cũng chỉ nói đến USD và khẳng định lại là không có USD “nhàn rỗi” trong dân.

USD bản thân là tiền, thậm chí còn là đồng tiền có lợi thế hơn so với VND, vì USD không chỉ “tiêu” được ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Nên, theo lý thuyết và cả thực tế, nó sẽ (dễ dàng) “chảy” đến chỗ nào, ở trong hoặc ngoài nước, mang lại lợi nhuận cao nhất cho chủ sở hữu. VND đã không “nhàn rỗi” thì càng không thể kỳ vọng USD sẽ “nhàn rỗi” được. Bởi vậy, dù là ở Việt Nam, bị khống chế bởi trần lãi suất tiền gửi 0%, nhưng sẽ không quá nhiều người nắm giữ USD gửi tiền vào ngân hàng để không được cái gì cả, vì họ dễ dàng và hoàn toàn có khả năng bắt số USD mình nắm giữ sinh lời.

Một trong những ví dụ minh họa cho lợi thế của USD và khả năng sinh lợi ở Việt Nam được nhắc đến khá nhiều thời gian qua là chuyện người nắm giữ USD sẽ gửi vào ngân hàng và dùng chứng chỉ tiền gửi này để thế chấp vay VND chính tại ngân hàng đó, với lãi suất ưu đãi, ví dụ là 5%/năm để rồi lại đem gửi chính số VND vào ngân hàng đó để hưởng lãi suất 7%/năm, tức là vẫn thu được lợi nhuận 2%/năm (tính theo lượng VND vay được) từ khoản nắm giữ USD của mình, mặc dù trên danh nghĩa khoản tiền gửi USD vào ngân hàng Việt Nam không hề có lãi.


Như vậy, điều có thể rút ra ở đây là không những USD không nằm “nhàn rỗi” trong dân ở cái nghĩa là không sinh lời, mà thậm chí đang sinh lời ở mức không hề tệ. Bởi là mức không hề tệ nên mới có chuyện ngân hàng hiện vẫn đang tiếp tục huy động được khá nhiều để cho vay bằng USD, dù rằng, xin được nhắc lại, lãi suất tiền gửi USD là 0%/năm, và dù rằng Mỹ đã và đang vẫn tiếp tục “lăm le” nâng lãi suất USD.

Từ đây, để tiếp tục trả lời câu hỏi cần phải nâng trần lãi suất USD lên bao nhiêu thì phải làm rõ vấn đề khác là nhu cầu vay USD ở Việt Nam nhiều đến mức nào?

Nếu là khối doanh nghiệp thì hiện nay nhu cầu và đối tượng vay USD đang bị khống chế bởi Thông tư 24. Về phía Chính phủ, không rõ có hay không kế hoạch phát hành trái phiếu, tín phiếu bằng ngoại tệ trong nước như đã từng làm trước đây. Nếu không có thì có nghĩa là nhu cầu vay/huy động USD ở Việt Nam trong thời gian này sẽ không có biến động gì nhiều, nếu nhìn từ cả góc độ công lẫn tư. Điều này cũng có nghĩa là NHNN không cần phải nâng trần lãi suất USD, vì mọi việc vẫn diễn ra bình thường, như cũ!

Ngược lại, nếu khu vực doanh nghiệp được nới lỏng điều kiện vay vốn bằng USD, còn Chính phủ thì quay trở lại với kế hoạch phát hành trái phiếu ngoại tệ lên đến hàng tỷ USD thì lập tức nhu cầu USD trong nước sẽ tăng. Ở mức trần lãi suất 0% hiện tại (hoặc lãi suất thực tế cao hơn, thu được từ những cách “lách” như trên) số USD huy động được sẽ chỉ là “muối bỏ bể” so với nhu cầu tăng vọt, buộc NHNN phải tính đến việc nâng trần lãi suất.

Trong bối cảnh trên, trần lãi suất không thể chỉ được nâng lên ở mức “gọi là”, kiểu như 0,5% hay 1%/năm được, mà phải ở mức cao hơn nhiều, tỷ lệ thuận với nhu cầu vay vốn USD. Đến một quy mô nào đó, mức lãi suất huy động USD mà ngân hàng thương mại cần chào mời để hấp dẫn tiền gửi USD trong nước thậm chí có thể trở nên còn cao hơn cả nếu họ huy động từ nước ngoài. Tương ứng với đó là trần lãi suất tiền gửi USD mà NHNN áp đặt cũng phải “nới” hết cỡ, và trở nên không còn cần thiết vì đằng nào thì ngân hàng thương mại cũng đi vay từ nước ngoài cho rẻ hơn là huy động trong nước.

Nhưng có lẽ ít có khả năng NHNN mạo hiểm nới lỏng quy chế cho vay bằng ngoại tệ vì quan ngại nó sẽ làm trầm trọng thêm nạn đô la hóa, vốn là một trong những nguyên nhân làm giảm tác dụng của chính sách tiền tệ và gây bất ổn vĩ mô. Vậy câu trả lời chỉ còn nằm ở chủ trương và động thái phát hành trái phiếu, tín phiếu bằng ngoại tệ trong nước của Chính phủ.

Và cũng cần lưu ý thêm rằng mặc dù trên danh nghĩa chi phí huy động USD chỉ là 0%/năm nhưng thực tế ngân hàng phải trả cho người gửi USD một lãi suất cao hơn nhiều (2% như trong ví dụ trên) để rồi lãi suất cho vay USD còn cao hơn thế nữa, có thể là 4% hoặc hơn. Trong bối cảnh này, Chính phủ nếu muốn phát hành trái phiếu, tín phiếu ngoại tệ trực tiếp cho ngân hàng thương mại thì họ cũng phải chào mời một lãi suất cạnh tranh, không thấp hơn quá nhiều so với lãi suất mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp. Bởi vậy, cũng sẽ không có chuyện Chính phủ sẽ huy động được USD với lãi suất không tưởng, ví dụ 1%, 2%/năm, cho dù trần lãi suất tiền gửi 0% vẫn được bảo lưu.

Do đó, nếu cân nhắc kỹ thì có lẽ không nên quá lạc quan với kênh huy động USD trong nước.

Thứ Sáu, 21 tháng 7, 2017

VPBank làm ăn thế nào sau khi các cổ đông lớn rút vốn?

Gần đây, làn sóng rút vốn của các nhà đầu tư ngoại khỏi ngân hàng Việt làm dấy lên những lo lắng về tương lai của các ngân hàng trong nước khi không còn được hỗ trợ từ phía các nhà đầu tư ngoại.

rút tiền mặt từ thẻ tín dụng

Tuy nhiên nếu nhìn vào kết quả hoạt động của VPBank vài năm trở lại đây, nhất là sau khi hai cổ đông lớn nhất rút vốn, nhiều nhà đầu tư sẽ phải nghĩ khác.

Trên giấy tờ, VPBank không còn một cổ đông lớn nào từ cuối năm 2013

Còn nhớ hơn 3 năm về trước, nhà đầu tư chiến lược cũng là cổ đông lớn nhất của ngân hàng này là Ngân hàng Oversea-Chinese Banking Corporation Limited (OCBC) đã công bố thoái vốn toàn bộ khỏi VPBank. Trước đó OCBC nắm 15% và là đối tác chiến lược của VPBank từ năm 2008.

Trong giai đoạn 2008 tới 2012, lợi nhuận của VPBank đều tăng trưởng ấn tượng, năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể năm 2008 đạt lợi nhuận ròng gần 143 tỷ đồng; năm 2009 là 383 tỷ; năm 2010 là 503 tỷ; năm 2011 đạt 800 tỷ. Tuy nhiên đến năm 2012, lợi nhuận sụt giảm xuống còn 640 tỷ đồng.

Trước OCBC, một cổ đông lớn khác của VPBank là công ty cổ phần đầu tư Châu Thổ cũng đã thoái toàn bộ 15% vốn khỏi nhà băng này vào cuối năm 2012.

Như vậy trên giấy tờ sổ sách, từ cuối năm 2013 VPBank đã không còn một cổ đông lớn nào. Có thể sau khi lên sàn (dự kiến đầu tháng 9 năm nay) cấu trúc này sẽ có thay đổi.

Bước ngoặt lớn

Trong năm 2013, mặc dù hai cổ đông lớn nhất thoái vốn nhưng VPBank lại cho thấy có sự thay đổi đáng kể. Ngân hàng thay đổi mô hình hoạt động theo mô hình ngân hàng bán lẻ hiện đại, đồng thời cũng đặc biệt chú trọng củng cố bộ máy nhân sự khi đầu tư mạnh để có được các nhân sự cao cấp đến từ các tổ chức nước ngoài như McKinsey, Citibank, ING, Alliance Bank...Các vị trí chủ chốt trong bộ máy vận hành cũng được bổ sung để đảm bảo hệ thống hoạt động liền mạch và chuyên nghiệp.

Nếu như 9 tháng đầu năm 2013 lợi nhuận ngân hàng tiếp nối xu hướng của năm 2012 là tiếp tục thấp hơn cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 423 tỷ đồng, thì trong quý cuối năm 2013 VPBank lại bất ngờ bật dậy và nâng lợi nhuận ròng cả năm ấy lên mức hơn 1.000 tỷ.

Và điểm lại thì từ năm 2013, mặc dù không còn bóng dáng cổ đông lớn nào song lại là bước ngoặt quan trọng của ngân hàng này khi từ đó tới nay VPBank liên tục leo dốc, trở thành ngân hàng dẫn đầu hệ thống về lợi nhuận ở thời điểm hiện tại.

Cụ thể, năm 2013 VPBank lãi ròng 1.017 tỷ đồng, đến năm 2014 tăng lên 1.253 tỷ, năm 2015 lãi gấp đôi lên 2.395 tỷ đồng và năm 2016 lãi 3.935 tỷ đồng – chỉ kém 3 ngân hàng do Nhà nước nắm quyền chi phối là VietinBank, BIDV và Vietcombank. Từ chỗ ngân hàng có vốn điều lệ chưa đến 5.800 tỷ đồng và nhân sự hơn 4.000 người vào cuối năm 2013, đến năm nay VPBank đã tăng vốn lên trên 10.000 tỷ và đang phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng tiếp lên hơn 14.000 tỷ.



Dấu ấn lãnh đạo mới cùng khẩu vị kinh doanh khác biệt - "thích rủi ro"

Có được kết quả kinh doanh ấn tượng trên, thị trường chắc hẳn không thể phủ nhận được công lao của các vị lãnh đạo chủ chốt của ngân hàng này: ông Ngô Chí Dũng - Chủ tịch HĐQT và ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc. Hai người được coi là linh hồn hiện nay của VPBank.

Ông Nguyễn Đức Vinh là một CEO có “thương hiệu” đắt giá trong giới ngân hàng từ trước tới nay. Trước khi gia nhập VPBank vào tháng 7/2012, ông Vinh từng ghi dấu ấn quan trọng trong 12 năm gắn bó ở ngân hàng Techcombank, đưa ngân hàng này lên 1 tầm cao mới, một đối thủ cạnh tranh vẫn luôn được đặt lên bàn cân với VPBank.

Từ khi gia nhập VPBank, ông Vinh được cho là đã mang đến một làn gió mới cho ngân hàng này khi tất cả các hoạt động đều trở mình bật dậy nhanh chóng. Và như vị CEO từng thừa nhận, VPBank có khẩu vị kinh doanh khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh đó là lựa chọn đi theo kinh doanh các hoạt động có tính rủi ro cao. Tất nhiên, cái giá cho rủi ro cao là lợi nhuận cao.

Thật vậy, trong cơ cấu tín dụng, ngân hàng mẹ chuộng hơn các khoản cho vay tiêu dùng và cá nhân, còn ngân hàng hợp nhất thì vẫn lấy mảng cho vay tiêu dùng với thương hiệu FECredit làm động lực chính cho sự phát triển. Dù ra đời đã được 7 năm nhưng FE Credit cũng mới ghi dấu ấn mạnh mẽ được 3 năm trở lại đây, công ty này cũng chứng minh được rằng đường lối của những người lựa chọn nó là không sai khi trong 2 năm vừa qua đều đóng góp tới một nửa vào tổng lợi nhuận của ngân hàng VPBank hợp nhất.

Và bởi lựa chọn khẩu vị kinh doanh rủi ro cao nên thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng này cũng luôn cao hơn các ngân hàng khác, những năm trước là trên 4% còn năm vừa qua cũng hơn 3%. Nếu tính chung cả Fe Credit nữa thì NIM tăng gấp đôi. Dù được coi là có khẩu vị rủi ro cao nhưng hệ số an toàn vốn của ngân hàng này đảm bảo ở quanh vùng 11-12% suốt 5 năm qua, trong khi yêu cầu tối thiểu của NHNN là 9%.

Hồi đầu năm nay đã có một số tin đồn trên thị trường về sự ra đi của ông Nguyễn Đức Vinh nhưng vị CEO này chia sẻ ông chưa có ý định đó và cách đây 1 tuần ông đã chứng minh điều này khi VPBank có quyết định tái bổ nhiệm chức danh Tổng giám đốc của HĐQT với ông.

Nhân vật được coi là chủ chốt tiếp theo là ông chủ tịch HĐQT Ngô Chí Dũng. Ông Ngô Chí Dũng xuất hiện ở VPBank từ năm 2010 với chức danh chủ tịch HĐQT. Trước đó ông là đồng nghiệp của ông Nguyễn Đức Vinh ở Techcombank với vị trí phó chủ tịch HĐQT. Ông Dũng còn được biết đến là cổ đông sáng lập và thành viên HĐQT của VIB. Là người có kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính, lại cũng có thời gian kinh doanh lớn ở Nga như các doanh nhân khác cùng thời, ông Ngô Chí Dũng và ông Nguyễn Đức Vinh được xem là cặp bài trùng đã “song kiếm hợp bích” để xây dựng VPBank được như hôm nay.

Kín tiếng nhưng có những bước đi táo bạo, hai vị lãnh đạo của VPBank còn tiếp tục tạo nên những bất ngờ, khác biệt với các ngân hàng khác khi quyết định đưa cổ phiếu của ngân hàng này lên thẳng sàn chứng khoán HoSE thay vì đi từ UPCoM như các ngân hàng khác. Nếu năm nay niêm yết, VPBank sẽ vượt qua các ngân hàng đàn anh khác trên sàn là STB, MB để trở thành ngân hàng tư nhân có mức vốn hóa thị trường cao nhất.

Nhưng... đừng ngủ quên trên chiến thắng

Những kết quả của VPBank đã được ghi nhận. Song bên cạnh đó ngân hàng này vẫn có nhiều vấn đề cần quan tâm lo lắng, nếu chủ quan mà “ngủ quên trên chiến thắng” thì có thể phải trả giá.

Đầu tiên là về vấn đề nợ xấu. Hiện nay VPBank là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất trong hệ thống các ngân hàng cổ phần, tất nhiên loại trừ Sacombank đang tái cơ cấu. Riêng ngân hàng có nợ xấu chưa đến 3% nhưng sau khi cộng của Fe Credit với tỷ lệ nợ xấu gần 6% thì tổng nợ xấu của ngân hàng hợp nhất chiếm 3,5% trên tổng dư nợ - cao hơn nhiều so với mặt bằng chung khi các ngân hàng chỉ duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, thậm chí có nơi còn chưa đến 1%.

Chưa hết, đây mới chỉ là tỷ lệ nợ xấu nội bảng.

VPBank còn đang sở hữu số trái phiếu VAMC sau khi bán nợ cho công ty này với hơn 4.100 tỷ đồng và các khoản nợ đó sẽ phải xử lý trích lập dự phòng hàng năm. Theo quy định hiện hành, VPBank sẽ có 5 năm để trích lập hết dự phòng cho số nợ đã bán cho VAMC. Dù rằng nghị quyết về xử lý nợ xấu của Quốc hội đã ban hành và toàn ngành ngân hàng đang ráo riết vào cuộc, nhưng rõ ràng vấn đề xử lý nợ xấu trên thực tế cũng chẳng dễ dàng như phép tính cộng trừ nhân chia trên giấy. Trong hệ thống, số nợ mà VPBank đang gửi ở VAMC là cao thứ 4 chỉ sau BIDV, VietinBank và Eximbank.

Ngoài số nợ xấu đang sở hữu và số nợ bán cho VAMC, tổng cộng gần 10.000 tỷ đồng, thì VPBank còn đối mặt với số nợ xấu tăng lên mỗi năm, bởi lẽ nợ xấu tất yếu sẽ phát sinh song hành với tăng trưởng tín dụng. Nếu nợ xấu không được xử lý nhanh thì sẽ tích lũy lên rất cao, ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng.

Thứ hai, VPBank cũng đối mặt với làn sóng cạnh tranh mạnh mẽ từ khắp mọi phía. Ở trong nước, Techcombank đang là “kỳ phùng địch thủ” của VPBank, cũng là ngân hàng đang có những chuyển biến hết sức đáng chú ý. Techcombank đi mạnh vào bán lẻ, khác con đường chọn tài chính tiêu dùng là tâm điểm của VPBank nhưng cũng cho những kết quả hết sức bất ngờ. Thậm chí nếu không tính đến các công ty con, Techcombank còn có phần hơn VPBank.

Thêm nữa, trong mảng tín dụng tiêu dùng, nếu như VPBank có thể hưởng chiếc bánh ngon suốt mấy năm qua, nhưng tới đây chắc không dễ dàng, khi hàng loạt các ngân hàng đã cho ra đời công ty tài chính, hoặc liên kết với đối tác nước ngoài để đánh mạnh mảng này. Các ngân hàng đó bản thân cũng rất có tiềm lực trên thị trường như MB, SHB, ACB, HDBank…

Còn trong mảng bán lẻ, hầu hết các ngân hàng hiện nay đều đẩy mạnh để cạnh tranh. Rất khó thậm chí là không có ngân hàng nào dửng dưng với việc cho vay ô tô, sửa chữa nhà ở, hộ gia đình, các doanh nghiệp SME hay thẻ tín dụng…

Cũng như các ngân hàng khác của Việt Nam, VPBank cũng sẽ đối mặt với làn sóng cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ phía các ngân hàng ngoại. Cho đến thời điểm này đã có 9 ngân hàng nước ngoài 100% vốn tại Việt Nam, chưa kể sắp tới còn có thêm các "tay chơi" kinh nghiệm khác khi chủ trương của Nhà nước khuyến khích nhà đầu tư ngoại tham gia tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém của Việt Nam. Trong một thị trường đã được coi là chật chội các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng, số tăng thêm luôn cố gắng cạnh tranh với chất lượng phục vụ tốt hơn, nếu VPBank cùng các ngân hàng nội không làm tốt, không cải thiện và phát triển mỗi ngày thì khả năng bị tụt hậu sẽ đến, thậm chí còn bị loại khỏi cuộc chơi chứ đừng mong có thể đứng yên hưởng trái ngọt

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Lãi suất huy động giảm trở lại

Lãi suất liên ngân hàng trong tuần qua cũng giảm sâu xuống vùng thấp nhất 8 tháng sau động thái hạ lãi suất của NHNN.

Rút tiền thẻ tín dụng

Theo báo cáo thị trường tiền tệ hàng tuần của Bộ phận phân tích thuộc công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI Retail Research), trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục xu hướng giảm như các tuần trước đó và thiết lập đáy mới. Lãi suất các kỳ hạn qua đêm, 1 tuần và 1 tháng giảm thêm lần lượt 47 điểm cơ bản (bps), -49bps, -67bps xuống tương ứng 1,28%, 1,57% và 2,42%/năm.

Ghi nhận của các chuyên gia cho thấy, đây là mức lãi suất thấp nhất trong vòng 8 tháng, kể từ thời điểm trước đợt căng thanh khoản dịp cuối năm 2016. NHNN chưa phát hành tín phiếu và tiếp tục duy trì trạng thái OMO cân bằng.

Sau quyết định hạ một số lãi suất chủ chốt của NHNN vào đầu tuần, một số ngân hàng đã công bố biểu lãi suất cho vay mới cho các đối tượng ưu tiên, theo đó lãi suất cho vay không chỉ giảm 0,5% mà có ngân hàng giảm tới 1%.

Theo các chuyên gia, việc hạ lãi suất cho vay sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới biên lợi nhuận do các ngân hàng sẽ không thể giảm 0,5%-1% lãi suất huy động trong một thời gian ngắn. Lợi nhuận giảm sẽ làm giảm động lực của các ngân hàng thương mại. Đây là một hiệu ứng ngược từ một chính sách đúng và cần có cơ chế để khắc phục.

Theo dữ liệu công bố từ NHNN, lãi suất cho vay trung dài hạn vào cuối tháng 6/2016 đối với các lĩnh vực ưu tiên là 9-10%. Lãi suất cho vay thông thường là 6,8-9% cho ngắn hạn và 9,3-11% cho trung dài hạn. Đáng chú ý lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường có thể thấp tới 4-5% nếu khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch.




Lãi suất vay USD thậm chí còn thấp hơn, 2,8-4,7% cho ngắn hạn và 4,7-6% cho trung-dài hạn. Như vậy có thể thấy trên thị trường đã có những cơ chế khác giúp giảm lãi suất cho vay. Nhờ lãi suất cho vay USD thấp, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ 6 tháng tăng tới +7,3% (cùng kỳ giảm -3,5%). SSI Retail Research cho rằng cần tiếp tục kiên trì với chính sách lãi suất USD=0%, một mũi tên trúng nhiều đích gồm tăng cung ngoại tệ, tăng thanh khoản hệ thống ngân hàng và giảm lãi suất cho vay.

Liên quan đến lãi suất huy động, các nhà phân tích cho biết lãi suất huy động thị trường 1 tức là từ dân cư và tổ chức kinh tế đã giảm trở lại sau tuần đẩy cao huy động nhằm đáp ứng các chỉ tiêu an toàn vào cuối quý 2. Hiện lãi suất 1 tháng đã giảm từ 5% về lại 4,5%/năm.

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Tiền đồng có khả năng sẽ mất giá 1,5-2% trong năm nay

"Đồng nội tệ mất giá 2%, là mức chấp nhận được trong bối cảnh nhiều biến động về vĩ mô tiền tệ", TS. Cấn Văn Lực cho hay.

rút tiền thẻ tín dụng

Tại Hội thảo Chính sách tài chính - tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2017, chuyên gia tài chính ngân hàng, TS. Cấn Văn Lực nhận định trong bối cảnh quốc tế cùng nội tại cung cầu ngoại tệ trong nước, tỷ giá USD/VND có thể tăng 1,5-2%.

Theo vị chuyên gia này, trong nửa đầu năm nay, đồng nội tệ được giữ ổn định so với USD. Trong khi đó, trên thế giới, USD đang mất giá mạnh 6% do hai năm trước USD đã tăng 9%. Cùng đó, chính sách của Tổng thống Trump có nhiều nghi ngờ với sự phản đối với người dân khiến chính sách thực thi chậm chạp.

Tuy nhiên, USD sẽ tăng giá trở lại nhưng không mạnh mà nhỏ giọt từ nay đến cuối năm. Việc Fed điều chỉnh tăng lãi suất khiến lãi suất quốc tế, đặc biệt lãi suất Libor tăng lên. Nhưng lãi suất dài hạn giảm lại cho thấy kỳ vọng việc tăng lãi suất của Fed đã giảm đáng kể và Fed có thể giảm lộ trình tăng lãi suất. Cùng đó, chính sách của Tổng thống Mỹ khá chậm chạp không như kỳ vọng ban đầu.

Chính sách tiền tệ tại các quốc gia phân hóa, một số quốc gia đang có xu hướng thắt chặt như Mỹ dựa trên tín hiệu về việc làm đang có những động thái thắt chặt nâng lãi suất, EU cũng đang bắt đầu thắt chặt. Trong khi đó, Nhật Bản tiếp tục nới lỏng để phục hồi tăng trưởng nâng lạm phát lên 2%. Trung Quốc trung tính, quan sát thị trường nhưng nhiều khả năng sẽ thắt chặt hơn trong những năm tới.



Ở trong nước, cung cầu ngoại tệ thuận lợi. Cầu USD mặc dù tăng do cho vay ngoại tệ, nhập siêu nhưng cung ngoại tệ được hỗ trợ nhờ kiều hối ước tính tăng 6% so với cùng kỳ cùng tăng trưởng dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII).

"Đồng nội tệ mất giá 2%, là mức chấp nhận được trong bối cảnh nhiều biến động về vĩ mô tiền tệ", ông Lực cho hay.

Còn theo PGS - TS. Đào Văn Hùng, Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển việc điều hành tỷ giá sẽ không quá xa so với khả năng của NHNN.

Tạp chí kinh tế nổi tiếng The Economist vừa cập nhật số liệu mới nhất về Big Mac Index - chỉ số được xây dựng và đưa vào sử dụng lần đầu tiên vào năm 1986 như một thước đo đánh giá một đồng tiền có đang ở mức giá trị phù hợp hay không.

Theo chỉ số này, vì một chiếc Big Mac ở Việt Nam có giá 60.000 đồng (tương đương 2,64 USD theo tỷ giá hiện tại) trong khi giá ở Mỹ là 5,3 USD, chỉ số Big Mac cho thấy VND đang bị định giá thấp 50,2%. Nếu đúng theo chỉ số Big Mac thì 1 USD sẽ đổi được 11.321 VND.