Thứ Năm, 29 tháng 6, 2017

Thúc đẩy mua bán nợ xấu theo giá thị trường

Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC cho phép VAMC tự thực hiện hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá khởi điểm, giá chào bán, giá dự kiến bán nợ...

Rút tiền thẻ tín dụng, đáo hạn thẻ tín dụng

NHNN Việt Nam đang lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC.
Theo cơ quan soạn thảo, dự thảo Thông tư chỉ tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến mua nợ xấu theo giá trị thị trường của VAMC và quy định về bán nợ xấu, tài sản bảo đảm để phù hợp với quy định pháp luật khác.



Theo đó, dự thảo quy định rõ trong trường hợp chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành khoản nợ xấu mua theo giá trị thị trường, VAMC và TCTD thỏa thuận giá mua bán khoản nợ xấu theo giá trị thị trường, ký kết hợp đồng mua bán nợ theo giá trị thị trường và thực hiện.

Đối với tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được mua bằng trái phiếu đặc biệt, VAMC phải trao đổi với TCTD bán nợ trước khi quyết định xử lý tài sản bảo đảm với bên bảo đảm theo quy định.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày VAMC có văn bản đề nghị có ý kiến, TCTD bán nợ phải trả lời bằng văn bản về những vấn đề VAMC đề nghị. Sau thời hạn trên, VAMC quyết định và chịu trách nhiệm về việc xử lý tài sản bảo đảm với bên bảo đảm theo quy định.

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

ngân hàng và chính phủ có cùng một phe?

"Doanh nghiệp đánh đồng ngân hàng với Chính phủ là một phe, đấu tranh đòi ngân hàng giảm lãi suất hỗ trợ vốn cho phát triển. Không được, chính ngân hàng cũng là một doanh nghiệp đang hoạt động bình đẳng".

 Rút tiền thẻ tín dụng, đáo hạn thẻ tín dụng

Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh phát biểu tại "Diễn đàn Phát triển Doanh nghiệp Việt Nam năm 2017 được tổ chức hôm 22/6. Theo vị chuyên gia, để doanh nghiệp phát triển không phải chỉ nhà nước, Chính phủ tham gia thúc đẩy tạo điều kiện, tiên quyết là chính bản thân các doanh nghiệp nói gì về câu chuyện phát triển của họ.

Vị chuyên gia cho rằng doanh nghiệp Việt Nam mãi mãi khó lớn lên được khi trong chính tư duy còn gặp vấn đề. Ví dụ như trong cuộc gặp với Thủ tướng, nhiều doanh nghiệp hết xin cái nọ cái kia. Khi nào còn xin sẽ còn được cho, còn tư duy ban phát của các cấp quản lý.

"Doanh nghiệp đánh đồng ngân hàng với Chính phủ là một phe, đấu tranh đòi ngân hàng giảm lãi suất hỗ trợ vốn cho phát triển. Không được, chính ngân hàng cũng là một doanh nghiệp đang hoạt động bình đẳng", TS Vũ Đình Ánh đưa ra thêm ví dụ. Vị TS cho rằng các doanh nghiệp cần hiểu rõ về kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh thay vì tâm lý xin - cho.

TS Vũ Đình Ánh cho rằng không nên áp dụng quá nhiều những ưu đãi cho các doanh nghiệp, đặc biệt khi tỷ lệ ưu đãi cho các DN vừa và nhỏ lên tới gần 98% số doanh nghiệp hiện tại. Với mỗi nhóm doanh nghiệp dựa vào quy mô, Chính phủ có chính sách, có cách ứng xử khác nhau giúp họ phát triển.


Trong những năm gần đây, Chính phủ đã đưa ra ba trụ cột về cải cách môi trường kinh doanh trong đó có Nghị quyết 19, Nghị quyết 35 và Luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo đánh giá của các vị chuyên gia, việc cải thiện môi trường kinh doanh chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn.

Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) Phan Đức Hiếu cho rằng cải cách của Việt Nam còn thiếu cưỡng bức. TS Hiếu lý giải, các nghị quyết về môi trường kinh doanh mới chỉ dừng ở bước thúc đẩy, khuyến khích các cơ quan bộ ngành tháo gỡ vướng mắc về chính sách, thủ tục cho doanh nghiệp, tuy nhiên, chưa có một chế tài đủ mạnh buộc thực hiện.

"Không có cuộc cải cách nào không cưỡng bức mà thành công cả. Ở một số nước còn có các cơ quan cao cấp "chặt chém" các quy định vô lý, như ở Úc là ủy ban về năng suất. Ở Việt Nam vẫn là các Bộ ngành tự làm, tự bãi bỏ. Điều này rất khó. Cơ quan giám sát như CIEM ngoài việc thuyết phục có khi dùng đến cả... năn nỉ nhưng chưa chắc đạt kết quả", ông Hiếu chia sẻ.

Đồng tính với ý kiến của TS Phan Đức Hiếu, TS Vũ Đình Ánh cho rằng chính tư duy xin - cho của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc không thể mạnh tay "chặt - chém" các quy định cản trở phát triển được vì vẫn còn doanh nghiệp xin, cơ quan quản lý còn tâm lý ban phát. Theo đó, vòng luẩn quẩn về môi trường kinh doanh khó tháo gỡ.

5 năm xin giấy phép một lần, ai dám đầu tư dự án 40 năm?

Tại hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Ban Pháp chế VCCI chia sẻ về những khó khăn hiện hữu về vấn đề chi phí, vốn, năng suất lao động, thủ tục hành chính, công tác thanh tra kiểm tra nhũng nhiễu... Trong bối cảnh và môi trường như vậy, các doanh nghiệp vẫn đang lựa chọn theo phương án "Khôn thì dựng trại, dại thì dựng nhà”. Doanh nghiệp cứ nhỏ thế để tránh những phiền phức và giảm thiểu những lần phải vấp phải vượt rào cản.

Theo đó, TS Hồ Sỹ Hùng cũng chia sẻ, nếu được đóng góp cho Chính phủ, về dài hạn, ông mong muốn trả môi trường kinh doanh về đúng nghĩa. Quyền kinh doanh của doanh nghiệp được pháp luật ủng hộ và thực thi một cách nghiêm minh.

TS Phan Đức Hiếu cũng cho rằng nỗi lo lớn nhất của doanh nghiệp không phải đến từ chi phí không chính thức, thuế mà mà do chi phí từ gánh nặng pháp luật. Làm rõ quan điểm này ông Hiếu đưa ra ví dụ, về giấy phép của 243 ngành nghề kinh có điều kiện chỉ có thời hạn trong vòng 5 năm. Sau 5 năm đó, doanh nghiệp phải đi xin cấp lại giấy phép. "Giả sử doanh nghiệp đã trót đầu tư khoảng 18 tỷ đồng (số vốn trung bình của doanh nghiệp vừa hiện nay), sau 5 năm nếu không xin được giấy phép hoặc chậm được cấp phép, doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro kinh tế. Ai sẽ dám đầu tư một dự án kéo dài khoảng 40 năm với số vốn lớn khi nguy cơ bấp bênh 5 năm phải xin lại giấy phép một lần?", TS Hiếu đặt ra câu hỏi.

Ông cho rằng doanh nghiệp sợ nhất là rủi ro, không bền vững trong kinh doanh. Quy định pháp luật hiện nay chưa bảo vệ được cho doanh nghiệp. Vì vậy, nếu được kiến nghị với Chính phủ, vị Viện phó CIEM cho rằng nên ưu tiên gỡ bỏ rào cản pháp lý.

Ngân hàng và chính phủ có phải là một phe?

"Doanh nghiệp đánh đồng ngân hàng với Chính phủ là một phe, đấu tranh đòi ngân hàng giảm lãi suất hỗ trợ vốn cho phát triển. Không được, chính ngân hàng cũng là một doanh nghiệp đang hoạt động bình đẳng".

Rút tiền thẻ tín dụng, đáo hạn thẻ tín dụng

Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh phát biểu tại "Diễn đàn Phát triển Doanh nghiệp Việt Nam năm 2017 được tổ chức hôm 22/6. Theo vị chuyên gia, để doanh nghiệp phát triển không phải chỉ nhà nước, Chính phủ tham gia thúc đẩy tạo điều kiện, tiên quyết là chính bản thân các doanh nghiệp nói gì về câu chuyện phát triển của họ.

Vị chuyên gia cho rằng doanh nghiệp Việt Nam mãi mãi khó lớn lên được khi trong chính tư duy còn gặp vấn đề. Ví dụ như trong cuộc gặp với Thủ tướng, nhiều doanh nghiệp hết xin cái nọ cái kia. Khi nào còn xin sẽ còn được cho, còn tư duy ban phát của các cấp quản lý.

"Doanh nghiệp đánh đồng ngân hàng với Chính phủ là một phe, đấu tranh đòi ngân hàng giảm lãi suất hỗ trợ vốn cho phát triển. Không được, chính ngân hàng cũng là một doanh nghiệp đang hoạt động bình đẳng", TS Vũ Đình Ánh đưa ra thêm ví dụ. Vị TS cho rằng các doanh nghiệp cần hiểu rõ về kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh thay vì tâm lý xin - cho.

TS Vũ Đình Ánh cho rằng không nên áp dụng quá nhiều những ưu đãi cho các doanh nghiệp, đặc biệt khi tỷ lệ ưu đãi cho các DN vừa và nhỏ lên tới gần 98% số doanh nghiệp hiện tại. Với mỗi nhóm doanh nghiệp dựa vào quy mô, Chính phủ có chính sách, có cách ứng xử khác nhau giúp họ phát triển.


Trong những năm gần đây, Chính phủ đã đưa ra ba trụ cột về cải cách môi trường kinh doanh trong đó có Nghị quyết 19, Nghị quyết 35 và Luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo đánh giá của các vị chuyên gia, việc cải thiện môi trường kinh doanh chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn.

Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) Phan Đức Hiếu cho rằng cải cách của Việt Nam còn thiếu cưỡng bức. TS Hiếu lý giải, các nghị quyết về môi trường kinh doanh mới chỉ dừng ở bước thúc đẩy, khuyến khích các cơ quan bộ ngành tháo gỡ vướng mắc về chính sách, thủ tục cho doanh nghiệp, tuy nhiên, chưa có một chế tài đủ mạnh buộc thực hiện.

"Không có cuộc cải cách nào không cưỡng bức mà thành công cả. Ở một số nước còn có các cơ quan cao cấp "chặt chém" các quy định vô lý, như ở Úc là ủy ban về năng suất. Ở Việt Nam vẫn là các Bộ ngành tự làm, tự bãi bỏ. Điều này rất khó. Cơ quan giám sát như CIEM ngoài việc thuyết phục có khi dùng đến cả... năn nỉ nhưng chưa chắc đạt kết quả", ông Hiếu chia sẻ.

Đồng tính với ý kiến của TS Phan Đức Hiếu, TS Vũ Đình Ánh cho rằng chính tư duy xin - cho của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc không thể mạnh tay "chặt - chém" các quy định cản trở phát triển được vì vẫn còn doanh nghiệp xin, cơ quan quản lý còn tâm lý ban phát. Theo đó, vòng luẩn quẩn về môi trường kinh doanh khó tháo gỡ.

5 năm xin giấy phép một lần, ai dám đầu tư dự án 40 năm?

Tại hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Ban Pháp chế VCCI chia sẻ về những khó khăn hiện hữu về vấn đề chi phí, vốn, năng suất lao động, thủ tục hành chính, công tác thanh tra kiểm tra nhũng nhiễu... Trong bối cảnh và môi trường như vậy, các doanh nghiệp vẫn đang lựa chọn theo phương án "Khôn thì dựng trại, dại thì dựng nhà”. Doanh nghiệp cứ nhỏ thế để tránh những phiền phức và giảm thiểu những lần phải vấp phải vượt rào cản.

Theo đó, TS Hồ Sỹ Hùng cũng chia sẻ, nếu được đóng góp cho Chính phủ, về dài hạn, ông mong muốn trả môi trường kinh doanh về đúng nghĩa. Quyền kinh doanh của doanh nghiệp được pháp luật ủng hộ và thực thi một cách nghiêm minh.

TS Phan Đức Hiếu cũng cho rằng nỗi lo lớn nhất của doanh nghiệp không phải đến từ chi phí không chính thức, thuế mà mà do chi phí từ gánh nặng pháp luật. Làm rõ quan điểm này ông Hiếu đưa ra ví dụ, về giấy phép của 243 ngành nghề kinh có điều kiện chỉ có thời hạn trong vòng 5 năm. Sau 5 năm đó, doanh nghiệp phải đi xin cấp lại giấy phép. "Giả sử doanh nghiệp đã trót đầu tư khoảng 18 tỷ đồng (số vốn trung bình của doanh nghiệp vừa hiện nay), sau 5 năm nếu không xin được giấy phép hoặc chậm được cấp phép, doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro kinh tế. Ai sẽ dám đầu tư một dự án kéo dài khoảng 40 năm với số vốn lớn khi nguy cơ bấp bênh 5 năm phải xin lại giấy phép một lần?", TS Hiếu đặt ra câu hỏi.

Ông cho rằng doanh nghiệp sợ nhất là rủi ro, không bền vững trong kinh doanh. Quy định pháp luật hiện nay chưa bảo vệ được cho doanh nghiệp. Vì vậy, nếu được kiến nghị với Chính phủ, vị Viện phó CIEM cho rằng nên ưu tiên gỡ bỏ rào cản pháp lý.


Thứ Năm, 1 tháng 6, 2017

Người dân có nên góp tiền để xử lý nợ xấu ?

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Trinh, nhiều quốc gia lấy tiền ngân sách xử lý nợ xấu thì đấy là việc của họ vì họ khác Việt Nam.

Rut tien the tin dung, dao han the tin dung

"Cơ chế gì cũng được, nhưng không được hỗ trợ trực tiếp giải quyết nợ xấu bằng tiền trực tiếp từ ngân sách."; "Không được dùng ngân sách xử lý nợ xấu. Đây là nguyên tắc cần được ghi rõ trong nghị quyết.”; "Dứt khoát không lấy ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Kể cả chính phủ bảo lãnh cũng không dùng ngân sách. Vậy phải đưa vào Điều 3 là nguyên tắc không dùng ngân sách để xử lý nợ xấu",...

Đây là những ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội trong phiên thảo luận góp ý Nghị quyết xử lý nợ xấu. Đa số các đại biểu Quốc hội đều ủng hộ việc ban hành một Nghị quyết xử lý nợ xấu ở thời điểm hiện nay là rất cần thiết, thậm chí có ý kiến còn đánh giá là quá chậm so với nhu cầu thực tiễn. Và đáng chú ý, hầu hết các đại biểu cùng nêu quan điểm không dùng ngân sách để xử lý nợ xấu.

Trong khi đó, có ý kiến cho rằng ở Hàn Quốc, người dân góp tiền để xử lý nợ xấu, chúng ta có nên học tập bài học kinh nghiệm này không? Trao đổi thêm với chúng tôi về vấn đề này, chuyên gia kinh tế - TS. Bùi Trinh cho biết ở Việt Nam nợ xấu đi lòng vòng, nếu lấy tiền ngân sách để xử lý nợ xấu là không nên.

Theo vị chuyên gia này, nhiều nước người dân góp tiền để xử lý nợ xấu thì đấy là việc của các nước đó rất khác Việt Nam. Ở Việt Nam không thể áp dụng điều này. Ví dụ, ở Hàn Quốc, mọi thứ đều minh bạch khi biết ai nợ và nợ ai?

TS. Bùi Trinh nhấn mạnh đề xuất dùng ngân sách để xử lý nợ xấu là điều vô lý. Những đại gia sử dụng tiền nợ mua nhà, mua xe,... tại sao lại bắt người dân trả nợ cho những ông này?

Tại Việt Nam, việc nợ xấu đi lòng vòng đó còn là chưa kể hiện việc định giá tài sản còn nhiều bất cập. Khi tài sản thực sự không như vậy thì cái ai dám mua cái nợ xấu đã được thổi phồng qua giá trị tài sản.


Trong khi đó, tất cả đều cho rằng giải quyết nợ xấu để giảm lãi suất 1% trong khi giá điện, giá xăng,... tăng thì cũng không giúp chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp giảm. Ngoài ra, cần phải xử lý nghiêm minh cá nhân, tổ chức gây nên nợ xấu chứ không để người dân gánh chịu. Người bổ nhiệm cá nhân gây nên nợ xấu cũng cần xử lý.

Vị chuyên gia đồng thời đặt câu hỏi về việc nếu bán nợ xấu dưới giá trị sổ sách, ai chịu phần chênh lệch hay lại là người dân phải chịu?